TRANG CHỦ    TIN TỨC - SỰ KIỆN    Kinh tế
  Thống kê người dùng
  Đang online:
2
  Số lượt truy cập:
2514731
Văn phòng điện tử liên thông
Văn phòng điện tử
Đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
Trung tâm Xúc tiến Đầu tư tỉnh Bình Định
Tổng cục Thống kê
Viện Chiến lược Phát triển
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
Tạp chí Kinh tế và Dự báo
Báo Đấu thầu
Nhằm tổng kết các kết quả đã đạt được qua 10 năm (2007-2017) triển khai cơ chế phối hợp liên thông thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp giữa cơ quan Đăng ký kinh doanh và Đăng ký thuế, ngày 01/6/2017, tại thành phố Đà Nẵng, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Tổng cục thuế - Bộ Tài chính đã tổ chức Hội nghị Phối hợp công tác Đăng ký kinh doanh – Đăng ký thuế với sự tham gia của gần 100 đại biểu đến từ các cơ quan Trung ương, các tổ chức quốc tế: Cục Hợp tác kinh tế liên bang Thụy Sỹ (SECO), Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) và các Sở Kế hoạch và Đầu tư và Cục thuế của các tỉnh/thành phố thuộc khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bà Trần Thị Hồng Minh – Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh cho biết  mục đích của Hội nghị Đăng ký kinh doanh – Đăng ký thuế là “nhằm tổng kết những dấu mốc lớn, những thành tựu nổi bật trong quá trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế trong chặng đường vừa qua, đồng thời, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa công tác phối hợp giữa hai ngành hướng đến một mục tiêu chung là cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp”.

Ảnh: Bà Trần Thị Hồng Minh – Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh phát biểu khai mạc Hội nghị. Nguồn: MPI Portal.

Ông Nguyễn Đại Trí - Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Thuế,

đồng chủ trì Hội nghị. Nguồn: Internet

Ảnh: Toàn cảnh Hội Nghị Phối hợp công tác Đăng ký kinh doanh – Đăng ký thuế. Nguồn: MPI Portal.

Trong thời gian 01 ngày, Hội nghị đã chuyển tải những mục đích, ý nghĩa trên thông qua bốn Chuyên đề với nội dung rất cô đọng.

Chuyên đề 1: Tổng kết 10 năm công tác phối hợp giữa Cơ quan Đăng ký kinh doanh và Cơ quan Thuế

Mở đầu Chương trình nghị sự là phần trình bày của Ông Bùi Anh Tuấn – Phó Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh về nội dung “Tổng kết 10 năm công tác phối hợp giữa Cơ quan Đăng ký kinh doanh và Cơ quan Thuế”. Thông qua đó, các đại biểu được dẫn dắt qua các thời kỳ của quá trình 10 năm phối hợp giữa hai ngành, hồi tưởng lại nhiều kỷ niệm khó quên về những khó khăn cũng như những niềm vui trước các thành quả đạt được mà cả hai bên đã cùng nhau trải qua.

‟Liên thông” theo cơ chế một cửa giữa ba thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và khắc dấu; “liên thông” hợp nhất thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế

Quá trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế được chính thức hóa lần đầu tiên vào năm 2007 khi Liên Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Công an và Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA. Trước năm 2007, các bước thủ tục hành chính này được tiến hành độc lập tại các cơ quan khác nhau khiến doanh nghiệp mất nhiều thời gian, phải tuân thủ nhiều thủ tục hành chính, hồ sơ doanh nghiệp phải thực hiện có nhiều yêu cầu trùng lắp, doanh nghiệp không thể thực hiện nhiều thủ tục đồng thời với nhau mà phải thực hiện lần lượt các thủ tục. (Ví dụ như phải chờ 10 ngày để có Giấy chứng nhận ĐKKD rồi mới được đi khắc dấu, có MST rồi mới được mua hóa đơn v.v...). Bên cạnh đó, sự phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước cũng chưa thực sự hiệu quả. Để góp phần khắc phục các tồn tại nêu trên, nhằm đơn giản hoá các quy định về thủ tục hành chính trong ba khâu đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu cho doanh nghiệp, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngày 27/02/2007, liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công an và Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số  02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết ba thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp Giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp (Thông tư 02) theo hướng rà soát, loại bỏ những khâu, thủ tục bất hợp lý; giảm bớt các giấy tờ không cần thiết; hợp lý hoá các khâu tổ chức thực hiện đối với 3 loại thủ tục này theo nguyên tắc “một cửa”, phối hợp liên thông giữa các cơ quan, giảm thiểu thời gian giải quyết công việc. Tiếp theo đó, ngày 30/11/2007, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP về một số giải pháp xử lý những vướng mắc trong hoạt động đầu tư xây dựng và cải cách thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp, trong đó, Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn việc thực hiện đăng ký thành lập mới, đăng ký mã số thuế trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc và thống nhất nội dung về đăng ký kinh doanh và đăng ký mã số thuế trong một bộ hồ sơ duy nhất nộp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư; sử dụng hệ thống mã số thuế doanh nghiệp làm mã số đăng ký kinh doanh. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP nêu trên, trên cơ sở kế thừa và tiếp tục phát huy những điểm tiến bộ tại Thông tư liên tịch số  02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA, ngày 29/7/2008, liên Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính và Công an đã ban hành Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, thay thế Thông tư số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA. Việc ban hành và thực hiện Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA tiếp tục tạo nên một bước tiến lớn trong việc gia nhập thị trường của doanh nghiệp, giúp đơn giản hóa hồ sơ, giảm chi phí về thời gian và tiền bạc trong việc đăng ký thành lập doanh nghiệp nhờ: (i) hợp nhất hồ sơ đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế thành một bộ hồ sơ duy nhất, (ii) hợp nhất mã số đăng ký kinh doanh và mã số thuế thành mã số doanh nghiệp, (iii) hợp nhất Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng ký thuế thành Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế, (iv) tiếp tục giảm thời gian thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế từ 15 ngày (kết quả từ Thông tư 02) xuống còn 5 ngày.

Liên thông điện tử hai thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế thành một thủ tục duy nhất: "Thủ tục đăng ký doanh nghiệp"

Trong khuôn khổ Chương trình cải cách đăng ký kinh doanh quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp Bộ Tài chính, Bộ Công an và các bộ, ngành, cơ quan có liên quan xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về đăng ký doanh nghiệp với nhiều điểm tiến bộ nổi bật:

Thứ nhất, hợp nhất hoàn toàn các thủ tục gia nhập thị trường cho doanh nghiệp để có thể đơn giản hóa và giảm thời gian thực hiện cả thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế cho doanh nghiệp trong thời hạn tối đa là 05 ngày làm việc;

Thứ hai, áp dụng một mã số duy nhất để định danh cho doanh nghiệp gọi là mã số doanh nghiệp; từ đó tạo điều kiện kỹ thuật cho việc chia sẻ thông tin về đăng ký doanh nghiệp giữa các cơ quan quản lý nhà nước cũng như giữa cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp;

Thứ ba, xây dựng Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp phủ khắp cả nước, nối mạng với Hệ thống thông tin thuế để điện tử hóa quy trình phối hợp đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế giữa hai cơ quan.

Theo cơ chế này, tổ chức, cá nhân đăng ký thành lập doanh nghiệp chỉ phải nộp một bộ hồ sơ duy nhất (gồm các thông tin về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế) tại một đầu mối tiếp nhận duy nhất (cơ quan ĐKKD) để được cấp một Giấy duy nhất là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (đồng thời là chứng nhận đăng ký thuế) và một mã số doanh nghiệp duy nhất trênmột quy trình chuẩn thống nhất trên phạm vi cả nước. Có thể nói rằng, nếu như Thông tư số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA và sau đó là Thông tư số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA là các văn bản đầu tiên tạo cơ sở pháp lý cho việc phối hợp giữa hai ngành đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế thì với sự ra đời của Nghị định 43/2010/NĐ-CP đã nâng cơ chế phối hợp giữa hai ngành lên một tầm cao mới theo hướng phối hợp liên thông điện tử, đặt nền móng cho quá trình phối hợp liên thông điện tử, hiện đại hơn, tiên tiến hơn và hiệu quả hơn. Nhờ đó, hiệu suất công tác của cán bộ đăng ký kinh doanh cũng tăng lên đáng kể, thể hiện qua số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng vọt trong giai đoạn 1999-2013 trong khi nguồn nhân lực không có sự thay đổi tương xứng và thời gian xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp ngày càng được rút ngắn (Biểu đồ).

Biểu đồ: So sánh tương quan xu hướng tăng/giảm của số lượng DN thành lập mới, thời gian xử lý hồ sơ ĐKDN và số lượng cán bộ ĐKKD

Liên thông điện tử tự động giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế

Để tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp gia nhập thị trường, Luật Doanh nghiệp 2014 đã giảm thời gian xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp xuống còn 03 ngày làm việc. Để hiện thực hóa quy định nêu trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, trong đó, pháp lý hóa cơ chế phối hợp liên thông điện tử tự động giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế thông qua quy trình tạo và sử dụng mã số doanh nghiệp. Cụ thể, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP đã quy định mã số doanh nghiệp được tạo, gửi, nhận tự động bởi Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Hệ thống thông tin đăng ký thuế và được ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước thống nhất sử dụng mã số doanh nghiệp để quản lý và trao đổi thông tin về doanh nghiệp.

Việc liên thông điện tử tự động giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế đã hạn chế sự tác động can thiệp của con người và qua đó góp phần rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp từ 05 ngày làm việc xuống còn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.

Như vậy, có thể tóm gọn lại những kết quả đã được của quá trình phối hợp giữa Cơ quan Đăng ký kinh doanh và Cơ quan Thuế như sau:

- Đối với doanh nghiệp: (i) Được giảm tối đa thời gian và chi phí để doanh nghiệp gia nhập thị trường; (ii) Nâng cao sự công khai, minh bạch thông tin pháp lý về doanh nghiệp; (iii) Được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ công hiện đại.

- Đối với công tác QLNN: (i) Khung pháp lý về việc phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế đã cơ bản được hoàn thiện; (ii) Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thông qua việc hiện đại hóa, ứng dụng triệt để công nghệ thông tin trong quá trình phối hợp công tác; (iii) Tạo được hình ảnh cơ quan nhà nước thân thiện, phục vụ, đổi mới (khảo sát PCI trong suốt giai đoạn 2006-2016 ghi nhận những cải thiện rõ rệt nhất ở lĩnh vực Gia nhập thị trường, lĩnh vực dẫn đầu bảng xếp hạng các chỉ số PCI 11 năm liên tiếp).

Tuy vậy, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận  những tồn tại, hạn chế cần khắc phục để tiếp tục phát huy hơn nữa hiệu quả phối hợp giữa hai ngành Đăng ký kinh doanh – Đăng ký thuế trong thời gian tới, cụ thể: (i) Chưa triển khai triệt để việc tạo mã số doanh nghiệp tự động trên toàn quốc; (ii) Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Cơ sở dữ liệu tại Hệ thống thông tin thuế vẫn chưa hoàn toàn được đồng bộ; (iii) Công tác phối hợp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập vẫn còn một số bất cập.

Chuyên đề  2: Công tác phối hợp giữa Cơ quan đăng ký kinh doanh và Cơ quan Thuế trong việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp

Tại Chuyên đề tiếp theo của Hội Nghị, Bà Lê Thu Mai – Phó Vụ trưởng Vụ Kê khai và Kế toán thuế, Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính đã trình bày nội dung: “Công tác phối hợp giữa Cơ quan đăng ký kinh doanh và Cơ quan Thuế trong việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp”.

Bên cạnh việc cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp trong thành lập và hoạt động sản xuất kinh doanh, các cơ quan quản lý nhà nước còn phải thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp theo pháp luật, đảm bảo doanh nghiệp hoạt động đúng qui định, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với nhà nước, với người lao động; tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, mỗi Bộ, ngành theo chức năng, nhiệm vụ được giao đã thực hiện các công việc trong khuôn khổ chức năng nhiệm vụ của mình, đồng thời, các Bộ ngành cũng đã phối hợp với nhau trong quản lý doanh nghiệp, trong đó có sự phối hợp giữa cơ quan Thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh.

Tình hình thực hiện phối hợp trong quản lý doanh nghiệp sau đăng ký thành lập

Trước khi có các quy định về phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế , công tác quản lý doanh nghiệp sau đăng ký thành lập còn bộc lộ nhiều hạn chế, có khâu thì chồng chéo, nhưng cũng có khâu còn buông lỏng, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao. Những nguyên nhân chủ yếu là do: thiếu thông tin về doanh nghiệp; thiếu cơ chế phối hợp trong xử lý doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật, trong thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp làm giảm đáng kể hiệu quả, hiệu lực của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp. Hậu quả là nhiều doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa được xử lý kịp thời, gây ra những tác động tiêu cực cho các doanh nghiệp khác, cho xã hội, người dân và môi trường kinh doanh.

Để khắc phục vấn đề này và đảm bảo sự thống nhất trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau thành lập trên phạm vi toàn quốc, ngày 28/5/2015, Liên Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nội vụ đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 04/2015/TTLT-BKHĐT-BTC-BNV hướng dẫn Quy chế phối hợp mẫu giữa các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập. Theo qui chế mẫu này, căn cứ đặc thù riêng, từng địa phương có thể áp dụng một cách linh hoạt để ban hành quy chế phối hợp của địa phương mình, qua đó tăng cường hiệu quả trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập. Tiếp theo đó, ngày 23/2/2016, Liên Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-BKHĐT-BTC hướng dẫn quy trình trao đổi, cung cấp thông tin và phối hợp xử lý đối với doanh nghiệp từ khi bắt đầu thành lập đến trong quá trình hoạt động, làm căn cứ để cơ quan Đăng ký kinh doanh và cơ quan Thuế thực hiện kết nối, trao đổi thông tin đăng ký và quản lý doanh nghiệp trên hệ thống ứng dụng Công nghệ thông tin. Tính đến ngày 25/5/2017, cả nước đã có 45/63 địa phương đã ban hành Quy chế phối hợp.

Về phối hợp trong việc trao đổi, cung cấp và công khai thông tin doanh nghiệp:

- Định kỳ hàng tháng, Sở KH&ĐT đối chiếu thông tin trên Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia với thông tin Cục Thuế cung cấp về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp qua hệ thống trao đổi thông tin giữa 2 cơ quan. Đối với doanh nghiệp ngừng hoạt động quá một năm không thông báo với cơ quan thuế hoặc cơ quan đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch và Đầu tư tiến hành thanh tra, kiểm tra, xử phạt theo chức năng, nhiệm vụ của mình và quy định của Luật Doanh nghiệp. Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối cung cấp, công khai thông tin về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố.

- Các cơ quan chức năng trao đổi, cung cấp thông tin doanh nghiệp theo lĩnh vực được giao quản lý với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế và các cơ quan quản lý nhà nước khác trên địa bàn để phục vụ nhu cầu quản lý nhà nước của từng cơ quan. Phương thức trao đổi, cung cấp thông tin giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế được thực hiện tự động thông qua hệ thống ứng dụng tin học, đảm bảo tính thống nhất, kịp thời và đầy đủ. Riêng việc trao đổi với các cơ quan chức năng khác trên địa bàn chủ yếu thực hiện bằng hình thức văn bản giấy và khá hạn chế cả về số lượng, chất lượng của thông tin cũng như tính kịp thời của thông tin cung cấp cho các bên liên quan.

- Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối công khai thông tin doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật về doanh nghiệp và đầu tư. Cục Thuế công khai danh sách các doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp trên địa bàn có hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Cơ quan chức năng khác công khai thông tin doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của mình. Hình thức công khai thông tin về xử lý doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật của từng cơ quan được thực hiện trên Cổng thông tin điện tử của mỗi ngành theo quy trình công khai thông tin riêng của từng cơ quan.

Về phối hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp:

Thanh tra tỉnh, thành phố là cơ quan đầu mối xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp của tỉnh, thành phố trên cơ sở tổng hợp yêu cầu về thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để tránh chồng chéo như: tại Quảng Ninh, năm 2016 Thanh tra tỉnh đã tổng hợp kế hoạch thanh tra, kiểm ta của các sở, ngành và địa phương đối với 1.494 doanh nghiệp, rà soát kế hoạch thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chuyên ngành đã loại trừ trên 200 doanh nghiệp có sự trùng lắp, chồng chéo trong kế hoạch thanh tra, kiểm tra đảm bảo trong 1 năm không quá 1 lần thanh tra, kiểm tra đối với 1 doanh nghiệp.

Một số địa phương đã tổng hợp được kết quả cụ thể về thanh tra, kiểm tra chuyên ngành của từng cơ quan quản lý nhà nước trên toàn địa bàn theo lĩnh vực được giao hàng năm, gồm số doanh nghiệp đã thanh tra, kiểm tra, số tiền phát hiện vi phạm qua thanh tra, kiểm tra như: tại Đà Nẵng năm 2016 các Thanh tra sở, ngành đã thực hiện 10.397 cuộc thanh ra, kiểm tra chuyên ngành với 25.867 tổ chức, cá nhân được thanh tra, kiểm tra, phát hiện 10.999 tổ chức, cá nhân có vi phạm, đã kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước số tiền vi phạm hơn 2 tỷ đồng và 26,2 tỷ đồng tiền phạt vi phạm hành chính; tại Hưng Yên năm 2016 Thanh tra của các sở, ngành đã tiến hành thanh tra, kiểm tra tại 233 doanh nghiệp, kiểm tra 648 doanh nghiệp, phát hiện 27 doanh nghiệp có sai phạm, xử phạt vi phạm hành chính hơn 300 t


Phòng Đăng ký kinh doanh  (Cập nhật ngày 07-06-2017)    



Các tin liên quan:
  Đăng ký tham dự khóa học Khởi sự doanh nghiệp và Quản trị doanh nghiệp năm 2017 (23-05-2017)
  Kế hoạch triển khai xây dựng Bê tông hóa đường giao thông nông thôn năm 2017 trên địa bàn tỉnh Bình Định (24-04-2017)
  Một số thay đổi nổi bật về đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử trong thời gian vừa qua (28-03-2017)
  Chủ trương đầu tư 04 Tiểu dự án tại các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên, Ninh Thuận thuộc Dự án “Khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai tại một số tỉnh miền Trung”, vay vốn WB (21-03-2017)
  Chỉ được thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp một lần trong năm (30-05-2016)
  Hình ảnh hoạt động
  Thông báo

Quyết định công bố các TTHC thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Kế hoạch và Đầu tư dưới hình thức "Bản sao y bản chính" theo các Quyết định của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư 

Công văn 1231/SKHĐT-TH ngày 13/10/2017 và biểu mẫu rà soát Kế hoạch Ngân sách địa phương 2016-2020 (lần 2)

Thông báo Mở lớp đào tạo Đấu thầu qua mạng năm 2017

Công văn và Biểu mẫu phân khai NSTW 2018

Công văn báo cáo tình hình thực hiện Chỉ thị số 24 và Nghị quyết số 70

Thông báo nhu cầu và Kế hoạch xét tuyển viên chức năm 2017 của Sở Kế hoạch và Đầu tư

Công văn và biểu mẫu cung cấp hồ sơ tài liệu phục vụ công tác kiểm toán ngân sách địa phương năm 2016

Công văn hướng dẫn điều chuyển nội bộ và bổ sung, cắt giảm kế hoạch đầu tư công nguồn vốn nước ngoài năm 2017

Quyết định ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Kế hoạch và Đầu tư Bình Định

Biểu mẫu xây dựng Kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội 2018

Công văn và biểu mẫu Lập Kế hoạch Đầu tư công giai đoạn 2016-2020 và năm 2018

Dự thảo lần cuối Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh tỉnh Bình Định (kèm theo văn bản số 711/SKHĐT-KTN ngày 05/7/2017 của Sở Kế hoạch và Đầu tư)

Công văn và biểu mẫu đề xuất các nhiệm vụ của Hội đồng tư vấn phát triển tỉnh

Công văn và biểu mẫu rà soát kế hoạch ngân sách địa phương giai đoạn 2016-2020

Công văn và Dự thảo Chương trình hành động của UBND tỉnh nhiệm kỳ 2016-2021

Góp ý xây dựng báo cáo tình hình quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau thành lập năm 2016

Biểu mẫu Kê khai tài sản, thu nhập năm 2016

GÓP Ý DỰ THẢO ĐỀ ÁN NGHIÊN CỨU CỦA HỘI ĐỒNG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG

Biểu mẫu Kế hoạch Tăng trưởng xanh

Dự thảo Đề án Quy định chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức Sở KH&ĐT

CÔNG VĂN VÀ MẪU BIỂU XÂY DỰNG KẾ HOẠCH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2017

CÔNG VĂN VÀ BIỂU MẪU LẬP KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG 2017

Quyết định 531/QĐ-UBND ngày 28/9/2012 của UBND tỉnh về việc phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Bình Định giai đoạn 2011-2020

CÔNG VĂN VÀ BIỂU MẪU ĐĂNG KÝ AN TOÀN ANTT

HƯỚNG DẪN THỦ TỤC VÀ BIỂU MẪU ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP TỪ NGÀY 01/7/2015

CÔNG BỐ NỘI DUNG ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP

BẢN CÔNG BỐ HỆ THỐNG QLCL TẠI SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ BÌNH ĐỊNH PHÙ HỢP TIÊU CHUẨN QUỐC GIA TCVN ISO 9001:2008

CÔNG VĂN VÀ HỆ THỐNG BIỂU MẪU LẬP KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG TRUNG HẠN 5 NĂM

Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Định
Trang thông tin chỉ đạo điều hành UBND tỉnh
Đánh giá mức độ hài lòng đối với dịch vụ hành chính công
Báo Bình Định
Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Bình Định
Văn bản chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh
Lịch công tác tuần của UBND tỉnh
Bản tin Bình Định
Công báo điện tử tỉnh
Trung tâm ITA
 
Xem tốt với trình duyệt IE 7.0+, Firefox 3.0+, Google Chrome 2.0+
Phát triển bởi Trung tâm Ứng dụng CNTT & Viễn thông Bình Định (ITA)
Công nghệ eGovWeb CMS 1.52 do ITA phát triển
BẢN QUYỀN THUỘC VỀ SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: 35 Lê Lợi, Thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định
Tel: (056) 3822628 - Fax: (056) 3824509
Email: skhdt@binhdinh.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: NGUYỄN THÀNH HẢI, Phó Giám đốc Sở